Chủ nhật, 11/12/2016 | 00:00 GMT+7
Đăng bởi: Thương Ngọc (thành viên tích cực)

Yên Định là huyện thuộc vùng trung du tỉnh Thanh Hóa. Theo Quốc lộ 45, Yên Định cách TP. Thanh Hóa chừng 28 km về phía Tây. Thời xa xưa, Yên Định là vùng đất của bốn con sông. Đó là sông Mã, sông Cầu Chày (tên cổ là sông Chùy), sông Mạn Định và sông Nhà Lê. Mỗi mùa lũ về, sông Mã, sông Cầu Chày vẫn còn tràn trề sức sống mãnh liệt. Nó mang đến nguồn phù sa vô tận cho những cánh đồng, cánh bãi. Nhưng đôi khi nó cũng mang đến nỗi kinh hoàng trong giấc mơ đại hồng thủy thời khai sơn lập địa. Sông Mạn Định là sông tự nhiên và sông Nhà Lê (hay kênh Nhà Lê chỉ còn lại trầm tích lưu miên sử sách. Suốt chiều dài 528km, một lần duy nhất đổi dòng của sông Mã lại nằm trên đất Yên Định, do nhà Trần đào nắn từ Đồng Cổ, Đan Nê đến Kẻ Rọi, Yên Phong đã tạo nên một hồ nước mang tên Cựu Mã Giang dài 5,5km, rộng hơn trăm thước chạy qua bốn xã: Yên Thọ, Yên Trung, Yên Bái, Yên Trường. Nhiều người vẫn gọi Cựu Mã Giang là Tây Hồ của Yên Định. Nhìn rộng ra, Yên Định nằm giữa Đông Sơn, Thành Nhà Hồ và Lam Kinh.

Ở nước ta có nhiều đền chùa cổ. Đền thờ Ma Xuân Trường ở TP. Việt Trì (Phú Thọ), xây dựng năm 930, nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia, tính tuổi mới hơn 1.000 năm. Đền Bạch Mã ở Thăng Long, được vua Lý Thái Tổ cho xây năm 1010 thờ thần Long Đỗ. Đến nay, tuổi cũng mới hơn 1.000 năm. Nếu tính cả hệ thống Tháp Chàm Nha Trang, Ninh Thuận, Phú Yên, thánh địa Mỹ Sơn, tháp được xây sớm nhất cũng bắt đầu từ thế kỷ thứ VII. Nhưng ở Yên Định có hai ngôi đền tuổi cao gần 2.000 năm.

Theo Linh tích núi Thiên Thai và Lịch sử Đảng bộ xã Yên Thọ năm 1930 - 2010: “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương thứ nhất, năm 938 TCN”. Tương truyền, đời vua Hùng Vương thứ nhất (938 TCN), khi nhà vua đi chinh phạt quân giặc Hồ Tôn ở phương Nam đã cho quân dừng lại ở chân núi Khả Lao Thôn. Đêm đến, nhà vua chiêm bao thấy có một thần tự xưng là thần miền Khả Lao Thôn xin được mượn trống đồng và dùi đồng để giúp nhà vua đánh giặc. Khi tỉnh giấc, nhà vua sai quân lính mang trống đồng, dùi đồng cho thần núi Khả Lao Thôn. Quả thực, khi xung trận, tiếng trống đồng vang lên văng vẳng trên không trung khiến quân giặc hồn siêu phách lạc. Thắng trận trở về, vua Hùng cho xây dựng lại miếu thờ. Trải qua nhiều đời vua tôn tạo, xây dựng, miếu thờ thần khả Lao thôn được gọi là đền Đồng Cổ - đền thờ thần Trống Đồng. Hiện nay ở nước ta có bốn đền Đồng Cổ: ngoài đền Đồng Cổ Khả Lao thôn (tức Đan Nê), còn có đền Đồng Cổ, Tây Hồ (Hà Nội), đền Đồng Cổ làng Nguyên Xá (Hà Nội) và đền Đồng Cổ, Hoằng Hoá, Thanh Hoá. Có một điều kỳ diệu là, cả ba đền Đồng Cổ kia đều được sinh ra từ đền Đồng Cổ ở Đan Nê.

Khuôn viên đền Đồng Cổ.

Theo những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (dân làng gọi một cách dân dã là dãy núi Ðổng). Ngày xưa ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp.

Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9 m, rộng 3 m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Theo những bậc đá lên đến ngôi miếu cổ trên núi Xuân, du khách có thể thu vào tầm mắt phong cảnh thật tuyệt vời của dòng sông Mã. Giữa đôi bờ bạt ngàn những ruộng ngô xanh mướt đang phất cờ, dòng sông mùa khô mang mầu ngọc bích hiền hòa trôi. Xa xa, phía bên kia sông là dáng hình thành Nhà Hồ (thuộc huyện Vĩnh Lộc), ẩn hiện trong sương mù mùa đông mờ ảo. Dưới chân núi, ngôi đền Đồng Cổ (được xây lại vào năm 1996, chỉ gồm một gian hai chái), lọt trong xanh tươi cây lá. Trước đền, hồ Bán Nguyệt như một tấm gương soi mây trời, lồng bóng núi.

Chiếc cổng Nghinh môn nằm ở phía tây ngôi đền.

Năm 2010, với ý nghĩa lịch sử và giá trị tâm linh sâu sắc Di tích đền Đồng Cổ ở làng Đan Nê, xã Yên Thọ (Yên Định, Thanh Hóa) được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Cũng chính từ nơi này, ngọn đuốc linh thiêng đã được lấy để thắp lên trong Lễ khai mạc Năm du lịch quốc gia 2015 – Thanh Hóa.

Một ngôi đền rất cổ sơ nữa trên đất Yên Định là Đền Hổ Bái. Đền được tọa lạc trên đất Trang Chân Bái, phủ Thiệu Thiên (xã Yên Bái, huyện Yên Định). Đền thờ thần Hợp Lang, người con thứ 11 của vua Hùng. Ngoài ra trong đền còn thờ 2 danh thần Quan Võ họ Lưu Thế là: Lưu Thế Tán (Phụ quốc Thượng tướng quân, Tước Trà quận công) và Lưu Thế Toản (Thái Phó sính Quốc công hùng dũng, Đại tướng quân Dực bảo trung hưng Trung đẳng phúc) và 2 quan Quan Văn là Hoàng Giáp Trịnh Cảnh Thụy và Tiến Sĩ Trịnh Minh Lương. Trong khuôn viên đền gồm một ngôi đền chính và hai giải vũ hai bên.

Đền Hổ Bái, xã Yên Bái.

Theo truyền thuyết, đền được xây ngay từ thời thần Hợp Lang còn sống. Chuyện kể rằng, người con thứ 11 của Long Quân, diện mạo khác thường, trí dũng siêu việt, tính thích nước vui chơi nơi sông nước, có tên kiêng huý là Hợp Lang tước, xưng là tướng văn lạc hầu, chia ở phủ Hoài Hoan. Lạc hầu tính bẩm trời sinh, Long Quân có giặc mệnh sai ông nhậm trị ở giang đầu có thể nổi, chìm đùa chơi nơi sông nước hỏi thăm bến bờ, thời gian đó Lạc hầu bỗng theo dòng sông Mã, tìm đến sông ngòi nước biếc đất linh thiêng, một mình hiện hình đi đến đất Trang Chân Bái ở huyện Yên Định, nhiều lần ngóng 4 phương ngắm phía đông trông phía tây, quan sát trời đất, thấy giao tụ nước biếc linh thiêng, trong lành, hình sông thế núi uyển chuyển với giải đất anh linh trọng yếu. Lạc hầu gọi Cụ già Bản Trang cho xây dựng một ngôi đền thờ ở bên sông. Công việc xong, Lạc hầu biến về thủy cung (tức ngày 4 tháng 4).

Từ đó hàng năm đến ngày 4/4 (âm lịch) nhân dân tiến hành lệ hương đèn cúng tế. Được hơn một năm, nhân dân giàu mạnh cho là được hưởng phúc anh linh.

Đến thời hai Bà Trưng tự làm Vua được 3 - 4 năm thì vua nhà hán là Quang Võ sai Mã viện và Lưu long…vv đem 3-4 chục vạn quân đến đánh, vì tuyết băng hận linh ở quan ải Chi Lăng, biên tư cáo gấp với Trưng Vương, bèn sai sứ thần đến các đất sông nước, ngầm cầu các giàng dõi con cháu Vua Hùng trước thuộc thuỷ linh Vương để huyện giúp đỡ. Sứ thần đi đến đất Trang Chân Bái, huyện Yên Định, Phủ Thiệu Thiên thám sát dò hỏi bỗng gặp ông già Họ Trịnh thế nhà học nghiệp thi thư, bèn hỏi sứ giả rằng “Sứ giả vốn cầu tìm việc gì” sứ thần nói hết sự việc, ông họ Trịnh đến trước nói rằng (dân Chân Bái chúng tôi vốn có Đền thần tối cao linh thiêng cầu xin ắt ứng đáp, vì đã trợ giúp cho dòng dõi Vua Hùng trước quân họ hiển hiện vậy). Sứ thần tề chỉnh đầy đủ đến Đền thờ thiên, ngầm tiến hành yết lễ ở Trang Chân Bái, nhân dân cùng làm lễ yết cầu.

Bỗng đến nữa đêm tức ngày 9/2 (âm lịch) tự nhiên đất trời mù mịt nỗi mạnh gió mưa, nước sông dâng đầy, bèn đến sáng ngày hôm sau trông về bên tả Cung Đền thấy một người áo mũ sáng lạn rực rỡ tay cầm gậy tre thần, cỡi Rồng bạch bơi trên mặt nước, dao. Long, cá, rùa cùng nỗi lên ở trên, bèn đứng ở của bến sông đọc một câu rằng: “Ta là con Vua hùng tiếng linh thiêng ở trong dân ta, nhân dân đều là thần tử hiệp, giáo nữ quân” đọc xong biến mất. Đất đó cây cỏ sầm uất thường thường linh thiêng xuất hiện ánh sáng hồng như lửa đỏ, đó là ở đất linh thiêng vậy. Liền hôm sau đó sứ thần cùng nhân dân làm lễ yết tạ, sứ thần trở về tâu lại Trương Vương, bà triệu bản Trang nhân dân cùng tiến binh cả thuỷ bộ điện thờ ở hai bờ sông, tiếng sấm vang trăm dặm, tiến thẳng đến của quan Chi Lăng đánh phá một trận lớn, sai binh vốn đến như tiếng sấm thúc khô đụng bất hổ, thế oai đại phá trúc trẻ, quân giặc kinh sợ thấy đều chạy tan, bèn dẹp yên giặc.

Trương Vương thấy thế cho là linh thiêng lạ kỳ tự cử tiến binh cùng nhân dân cử trở về chính đền thiêng Trang Chân Bái tiến hành làm lễ bái yết, mở yến tiệc mừng lớn, khen thưởng uỷ lạo quân dân tiến hành ca hát vui vẻ trong một tháng, ban thưởng cho nhân dân tiền công 60 quan để làm ơn công tiền ban thêm cho ông nhà họ Trịnh tiền bạc 2 lượng, lại hạ lệnh cho nhân dân bản Trang Chân Bái chia làm hai đạo thần tử theo tạo lập hai bên sứ sông để làm hai khu tả hữu án giữ danh giới sông nơi hoá linh thiêng. Lại hạ lệnh cho tu sửa đền thờ chính. Ngôi đền chính được xây dựng toàn bộ bằng gỗ Lim với nét kiến trúc văn hóa tinh sảo, độc đáo và phong tăng mỹ tự "Thượng Đẳng Phúc Thần".

Về sau trải đến triều Trần Nhân Tông là Vua anh minh (từ 1293-1313) bỗng nhiên năm Trùng Hưng thứ 2 triều Trần Nhân Tông 1286, hai trường thiên mạc gặp hạn hán, lúa mùa bị tổn hại, nhân dân trong thiên hạ phần nhiều bị đói hại, triệu đại nhà Vua bị hoạn nạn, lệnh cho các Đình thần trở về chính ngôi đền thờ thiêng ở Trang Chân Bái hai lệnh làm lễ tế cầu đảo, được 3 ngày tự nhiên mây trời mù mịt, trời giáng xuống cơn mưa lớn, ở trước cung đền thờ bên tử gió êm về sau nhân dân gọi danh hiệu là sứ Cồn tắt. Vì cho đó là có sự linh thiêng ứng nghiệm, trở về dâng biểu tâu lên nhà Vua trước sự chứng kiến ở cung đền thờ, núi tượng là bình phong phía trước, gọi là núi chiếu khí án thông nỗi lớn trận mữa to. Từ đó trải khắp thiên hạ 4 phương đều được an ủi vỗ về, người người  đều xem đó là sự phúc đức của nhà Vua có anh linh trước đền, linh truyền cho các cụ già bản Trang Chân Bái tiến hành làm lễ tạ cầu đảo ban thưởng thêm tiền cồn 28 quan để làm việc tế thờ xuân thu 2 kỳ bằng tiền công. Tặng phong mỹ tự chữ đẹp là: Thượng đẳng phúc thần muôn đời được thờ cúng tới vô cùng vậy.
 
Tặng phong Đương cảnh Thành Hoàng hiển hách anh linh, cứu tế rộng khắp, hiệp cùng đất nước linh thiêng, thêm suốt cảm ứng, bậc đại vương phúc thần thượng đẳng tối linh. Cho phép 2 bên tả hữu Trang Chân Bái huyện Yên Định, phủ Thiệu thiên, đạo Thanh Hoá phụng thờ y như trước.

Ngoài ra, Yên Định còn hàng chục ngôi đền khác như đền thờ thần Cao Sơn (thờ Sơn Tinh) ở Yên Thọ, đền thờ Bạch Hổ Thiên Thần ở Yên Phú, Đền thờ Trương Công Mỹ ở làng Kiểu, Yên Trường…

 sẽ liên tục thông tin mới nhất đến bạn đọc!
Đăng bởi: Thương Ngọc (thành viên tích cực)
Ý kiến bạn đọc
 
1 2
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!