Thứ 4, 07/9/2016 | 00:00 GMT+7
Đăng bởi: Biên Thùy (thành viên tích cực)


Theo Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình thì Đinh Liệt là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn - con trai của vua Đinh Tiên Hoàng.

Thời thơ ấu, ông được cha gọi là Hồng Mai, rất giỏi về kinh luân thao lược và sớm có tinh thần yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm. Thời trẻ, ông là một  thanh niên khôi ngô, tuấn tú, thông minh, gan dạ, sớm bộc lộ tư chất của người có chí khí lớn.

Theo sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn: Khi Lê Lợi bắt đầu chuẩn bị dựng cờ cứu nước, cứu dân, Đinh Liệt cùng với anh là Đinh Lễ và Đinh Bồ tích cực hưởng ứng chính nghĩa. Đinh Liệt là một trong số 19 người tham dự Hội thề Lũng Nhai tháng 2 năm 1416 nổi tiếng. Ông cũng là một trong số rất ít những người dự hội thề này có may mắn được chứng kiến ngày đại thắng và sau đó được chứng kiến ngày non nước thịnh trị, thái bình suốt nửa chặng đầu của thời Lê sơ.

Có thể nói: một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thành công là đã tập hợp, quy tụ được nhiều tướng tài, mưu lược, văn võ song toàn, gan dạ từ đó đoàn kết được toàn dân chống giặc Minh xâm lược. Và một trong những vị tướng tài đó là 3 anh em Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt.

Ròng rã 10 năm theo nghĩa quân Lam Sơn kháng chiến chống quân Minh, ông đã tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối của mình với Bình Định vương Lê Lợi, gian nan không ngại trí, thất bại chẳng sờn lòng, càng chiến đấu, tài năng quân sự của ông càng nảy nở. Ông nổi bật lên bởi hai trận đánh lớn là trận Khả Lưu và trận Chi Lăng - Xương Giang.

Cuối năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu tấn công vào Nghệ An bằng nhiều trận chiến, nhưng sống mái nhất là trận Khả Lưu. Nghĩa quân chiếm được châu Trà Lân và chuẩn bị vây đánh thành Nghệ An thì bị quân Minh bất ngờ kéo đến phản công. Lê Lợi sai tướng Đinh Lễ dẫn quân đến mai phục trước ở vùng đất hiểm tại Khả Lưu. Đinh Liệt được lệnh đem hơn một ngàn quân, bí mật luồn xuống phía Đỗ Gia (nay là đất Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) để từ đó mà vòng lên đánh tập hậu, hỗ trợ cho Đinh Lễ. Quả nhiên, giặc bị sa vào ổ mai phục của Đinh Lễ, chưa biết xoay xở thế nào thì bị quân của tướng Đinh Liệt  đánh ồ ạt từ phía sau lên, giặc Minh đại bại.Sau đó, Đinh Liệt còn lập công đánh chiếm Tùng Lĩnh, Linh Cảm, giải phóng châu Trà Lân, Ngọc Ma và có ý kiến tâu với Lê Lợi chuyển đại bản doanh sang vùng núi Thiên Nhẫn. Trong thời gian này Hoàng hậu Bạch Ngọc nhà Hậu Trần đang chiêu dân lập ấp, khai phá vùng đất này, bà đã mở một buổi tiệc chiêu đãi các tướng có nhiều đóng góp cho cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh của Lê Lợi, tướng Đinh Liệt đã được mời và khoản đãi.

Cuối năm 1427, được tin Liễu Thăng cùng nhiều tướng giỏi của nhà Minh cầm đầu viện binh hùng hậu gồm 10 vạn tên sang tiếp viện cho Vương Thông, đang bị quân ta vây chặt ở Đông Quan. Quân Lam Sơn quyết định đánh trận quyết chiến với giặc tại hai địa điểm quan trọng nhất là Chi Lăng và Xương Giang. Lê lợi đã cử các tướng Đinh Liệt, Lê Sát, Lê Vấn, Lưu Nhân Trú đem 1 vạn quân lên bí mật ém quân mai phục địch ở vùng Chi Lăng hiểm trở thuộc Lạng Sơn để trực tiếp đánh những trận đầu tiên với đạo viện binh của giặc. Đội quân do Đinh Liệt chỉ huy đã có công lớn trong trận tập kích tại núi Mã Yên, chém chết Liễu Thăng ngay tại trận. Thắng lợi vang dội của trận tập kích này đã khích lệ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ Lam Sơn, tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn cho những trận đánh quan trọng sau đó.

Bởi những công lao nói trên, ngay sau khi lên ngôi hoàng đế (năm Thuận Thiên thứ nhất, năm 1428), vua Lê Thái Tổ ban thưởng cho 93 công thần. Trong đó, Đinh Liệt và Đinh Lễ được phong chức Thứ thủ (Phó Chỉ huy) của vệ quân Thiết Đột, được xếp vào hạng cao nhất trong số các Khai quốc công thần từng có mặt từ Hội thề Lũng Nhai. Một năm sau (1429), khi khắc biển công thần, ông được phong làm Đình Thượng hầu. Năm 1442, ông được gia hàm Nhập nội Tư mã, được tham dự triều chính.

Tháng 5 năm 1434 đời vua Lê Thái Tông, ở phía Nam có quân Chiêm Thành vào cướp phá, ông được lệnh đem quân vào đánh địch, nhưng chỉ mới đến Hóa Châu (vùng Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay), vua Chiêm là Bồ Đề nghe có tướng Đinh Liệt cầm quân vào đánh, sợ quá đã vội rút quân về. Người Man trưởng ở đây là Đạo Thành bị người cùng tộc thù nghịch đến đánh, đã cầu cứu Đinh Liệt, ông bèn dẫn quân vào giúp đánh tan quân Man.

Tháng 7 năm 1444, sau vụ án Lệ Chi Viên (vào năm 1442) thuộc đời vua Lê Nhân Tông. Do vua còn nhỏ, lại có kẻ gièm pha làm hại ông, thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai bắt giam cả nhà Đinh Liệt lúc này đang giữ chức Thái phó. 4 năm sau, nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan nài nỉ xin hộ, ông mới được tha ra, nhưng gia quyến vẫn bị giam, đến gần 2 năm sau mới được thả.

Năm 1454, ông được phục chức, được ban hàm Thái Bảo. Năm 1460, ông cùng với các tướng Lê Lăng và Nguyễn Xí giết chết Lê Nghi Dân (kẻ giết anh là vua Nhân Tông để cướp ngôi) rồi cùng nhau tôn phò hoàng tử Lê Tư Thành (tức Lê Thánh Tông) lên ngôi Hoàng đế. Từ tháng 6 năm 1460, ông được vua phong chức Khai phú Nghi đồng Tam ty, Bình Chương quốc trọng sự, Nhập nội Thái phó Á Quận hầu. Đến tháng 12-1461, Đinh liệt cùng Lê Lăng được vua giao cầm quân dẹp giặc Lư Cầm, tù trưởng Bốn Man và sau đó được phong hàm Thái sư phụ chính.

Năm 1465, khi Nguyễn Xí qua đời, ông là Tể tướng, nắm quyền quyết định nhiều việc lớn của nước nhà. Cuối năm 1470 Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông là lão tướng, được sung chức Chinh Lỗ Tướng quân, cùng tướng Lê Niệm (con của Lê Lâm, cháu nội của Lê Lai) dẫn đội quân tiên phong. Trận ấy quân ta đại thắng, vua Chiêm Thành là Trà Toàn bị bắt. Nhưng, năm 1471, khi về đến nơi thì ông lâm bệnh mà mất, được truy phong là Trung Mục vương, hưởng thọ 72 tuổi.

Khu di tích Sáo Thần, Thái Bình nơi có Đền thờ Tam quốc công Đinh Liệt, Đinh Lễ, Đinh Bồ.

Ông là một trong những công thần khai quốc sống lâu nhất sau khi nhà Hậu Lê thành lập, trải qua 4 đời vua Lê gồm: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Không chỉ là một danh tướng cầm quân giỏi duới 4 đời vua, mà ông còn là một danh thần có công lớn trong công cuộc Xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông.

Có tài liệu cho rằng: năm Giáp Thân (1464) bằng những chứng cứ chuẩn xác, Đinh Liệt đã chứng minh rằng, ông bà Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ không giết vua mà bị vu oan rồi bị giết oan…. nên Lê Thánh Tông Hoàng đế đã xuống chiếu Chiêu tuyết minh oan cho Nguyễn Trãi. Đinh Liệt được vua Lê Thánh Tông ban tặng 8 chữ vàng: Tứ đại kỳ công, vĩnh thùy bất hủ, được vua ban đất Lộc điền ở Đống Cải, huyện Nông Cống, phủ Thanh Hoa (sau này Đống Cải đổi thành Đông Cao,Trung Chính, Nông Cống, Thanh Hoá). Lễ hội Đông Cao thực chất là ngày giỗ của Thượng trụ quốc Thái sư Lân Quốc công Đinh Liệt được tổ chứ 5 năm/lần.

Vợ của Đinh Liệt là bà Lương Minh Nguyệt, cũng rất nổi tiếng thời đó. Bà là người làng Chuế Cầu, tỉnh Nam Định, có nhan sắc và giỏi nghề ca hát Ả đào. Trong thời gian Lê Lợi kháng Minh, bà đã mở quán rượu nổi tiếng ở gần thành Cổ Lộng (Đông Đô tức Thăng Long), cốt ý dò la tin giặc, giúp kháng chiến. Trong một cuộc tấn công thành Cổ Lộng, bà Minh Nguyệt đã cùng các cô gái tiếp viên phục rượu một số tướng Minh say mèm, và làm ám hiệu để quân Lam Sơn dưới quyền chỉ huy của tướng Lê Thạch chiếm được thành. Sau, Đinh Liệt được phong tước Quốc công, mang họ nhà vua (họ Lê), và bà là Nhất Phẩm Phu nhân. Các vua đời sau đều có sắc phong vợ chồng bà là Phúc thần.

Đinh Liệt được vua Lê Thánh Tông ban lộc điền ở huyện Nông Cống, con trưởng của ông là Đinh Công Nhiếp (cũng gọi là Đinh Công Đột) đem gia nhân khai hoang vùng đất chân núi Nưa thuộc làng Đống Cải, xã Đội Tượng, ông làm quan đến Thị Lang bộ binh, tước Văn Thắng hầu, sau tựng là Thượng Thư bộ binh, dưới thời Lê Thánh Tông.

Lộc điền của họ Đinh sau nhập với làng Đống Cải đến thời Duy Tân nhà Nguyễn thì đổi tên là làng Đông Cao cho đến ngày nay.

Đinh Liệt được thờ làm thành hoàng làng Đông Cao, các nhân vật có nhiều công lao giúp nước của họ Đinh như Đinh Tôn Nhân, Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Vĩnh Thái, Đinh Công Đột đều được phối thờ ở làng Đông Cao. Bà Đinh Thị Ngọc Ban là em gái Đinh Liệt được gọi là bà chúa Ban có công giúp Lê Lợi nên đã có đền thờ riêng ngay tại làng Đông Cao.

Tên ông đã được đặt cho nhiều con đường của các tỉnh, thành phố trong cả nước như: Hà Nội, Đà Nẵng...

Sau khi ông mất, nhân dân vùng tổng Thủy Cối Lam Sơn, Thanh Hóa có lập đền thờ ông. Còn ở Thái Bình có lập Đền thờ Tam quốc công Trong 277 vị khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, ba anh em Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt được coi là những vị tướng kiệt xuất nhất của nghĩa quân Lam Sơn, được vua Lê phong tặng là: “Lê triều Lũng nhai Khai quốc Bảo kiến công Thần”. Đinh Lễ còn được gọi là “Thái Sư Bân Quốc Công”, Đinh Bồ là “Thái Phó Đinh Quốc Công”, Đinh Liệt là “Thái Bảo Kỳ Vũ hầu Đại đô đốc”. Cả ba ông đều danh tiếng lẫy lừng như vậy thật đúng với câu đối khắc ghi trước cửa Đền là:

“ Võ công cái thế lừng thiên hạ

Danh bất hư truyền rạng núi sông”.

Trải qua gần 550 năm với bao biến cố và thăng trầm của non sông đất nước, Đền thờ Tam Quốc Công vẫn tồn tại đến ngày nay. Hiện tại đền Thờ Tam Quốc Công và đền thờ “Quốc Mẫu Ngô Thị Ngọc Giao” nằm trong quần thể di tích Sáo Đền đã được trùng tu và tôn tạo khang trang.


 sẽ liên tục thông tin mới nhất đến bạn đọc!
Đăng bởi: Biên Thùy (thành viên tích cực)
Ý kiến bạn đọc
 
1 2
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!