Thứ 5, 20/10/2016 | 00:00 GMT+7
Đăng bởi: Biên Thùy (thành viên tích cực)

Bà Triệu - Nhụy Kiều tướng quân.

Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (tức năm 226). tại miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân (nay thuộc thôn Cẩm Trướng, xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá). Bà là em gái Triệu Quốc Đạt – một Huyện lệnh có thế lực trong vùng. Cha mẹ mất sớm, bà ở với anh, chưa lấy chồng. Trước khi dựng cờ khởi nghĩa Bà Triệu nổi tiếng xinh đẹp, can đảm mưu trí hơn người và tính tình thằng thắn không bao giờ dung tha kẻ xấu.

Khi Bà Triệu bước vào tuổi thanh xuân thì cuộc hỗn chiến Tam Quốc (Ngô, Thục và Ngụy) cũng đang hồi quyết liệt nhất. Để giữ vững tương quan về thế và lực với 2 nước còn lại, đặc biệt là để có thể tạo ra cơ may làm thay đổi cục diện theo hướng ngày càng có lợi cho mình, nhà Ngô đã tìm đủ mọi cách để vơ vét sức người và sức của trên mọi vùng đất mà chúng đang nắm quyền cai trị. Mâu thuẫn xã hội giữa một bên là toàn thể nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị thống trị tàn bạo với một bên là chính quyền đô hộ của nhà Ngô ngày càng trở nên gay gắt. Nhân lòng căm phẫn của nhân dân và cũng nhân cơ hội trung tâm của phong trào đấu tranh chống nhà Hán đang chuyển dịch dần ra Cửu Chân, từ đất quê hương của mình, Bà  Triệu đã cùng với anh trai nổi dậy khởi nghĩa.

Khởi nghĩa bắt đầu vào năm 246 - 247, tại vùng núi Nưa (thuộc Kẻ Nưa – Cổ Định, huyện Nông Cống, nay là huyện Triệu Sơn). Triệu Thị Trinh cùng anh trai đã thảo hịch kể tội ác giặc Ngô đối với nhân dân ta và kêu gọi mọi người đứng lên đánh giặc cứu nước. Ngay khi lời hịch truyền đi và cờ khởi nghĩa giương lên đã được đông đảo nhân dân trong vùng hưởng ứng.

Khi Triệu Quốc Đạt mất, bà được nghĩa quân tôn làm chủ soái, xưng là Nhuỵ Kiều tướng quân (giặc Ngô thì gọi bà là Lệ Hải Bà Vương). Là một người phụ nữ song Triệu Thị Trinh có một khí phách rất hùng dũng của một người chỉ huy quân sự và có ý chí khôi phục giang sơn mãnh liệt. Sau một thời gian chuẩn bị, Bà Triệu cùng nghĩa quân đã vượt sông Chu đến vùng Núi Nưa cách quê hương mình hơn 30km để lập căn cứ, chuẩn bị tràn xuống đồng bằng.

Sau một thời gian gấp rút Xây dựng lực lượng, tích trữ lương thực, nghĩa quân Bà Triệu đã đủ mạnh để tấn công thành Tư Phố, đó là căn cứ quân sự lớn nhất, là đầu não của bộ máy cai trị quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân. Đây cũng là giai đoạn mà phong trào đấu tranh của nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân đã diễn ra hết sức sôi nổi. Tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của anh em họ Lý ở Bồ Điền (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc). Đó là những yếu tố quan trọng, thời cơ thuận lợi để Bà Triệu có thể giải phóng hoàn toàn Châu Giao.

Cuộc tấn côn thành Tư Phố mau chóng giành được thắng lợi trọn vẹn, Bà Triệu cùng đại quân của mình vượt sông Mã xuống Bồ Điền.

Trước tinh thần và khí phách anh hùng của người con gái mới tròn hai mươi tuổi, đông đảo nhân dân Cửu Chân đã khâm phục và gia nhập nghĩa quân của Bà. Lực lượng nghĩa quân của Bà Triệu vì thế mà phát triển rất nhanh.

Nhờ vậy, các thành ấp của giặc Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị hạ. Từ Thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng kế tiếp nhau, kẻ bị giết, bị bắt sống, kẻ chạy trốn trong cơn hoảng loạn. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Đức, Nhật Nam. Thứ sử Giao Châu mất tích, chính quyền đô hộ của Đông Ngô ở nước ta tan rã. Nhà Đông Ngô vô cùng hoảng sợ, phía bắc phải chống đỡ với nước Nguỵ của Tào Tháo, phía tây bắc phải chống lại nước Thục của anh em nhà Lưu Bị, phía nam nếu Giao Châu bị mất thì hậu phương của nhà Đông Ngô cũng bị lung lay. Do đó triều đình Ngô tức tốc cử tướng quân Lục Dận (cháu họ viên danh tướng Lục Tốn) sang làm thứ sử Giao Châu, đem tám nghìn quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Lục Dận là một viên tướng giảo hoạt, hắn một mặt mở các trận tiến công quân sự vào lực lượng khởi nghĩa của Bà Triệu, mặt khác dùng thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, rất nhiều thủ lĩnh và hàng vạn người dân ở Giao Chỉ đã bị khuất phục như sử cũ đã chép.

Triệu Thị Trinh cùng quân sĩ củng cố lực lượng ra sức chống Ngô song cũng chỉ kéo dài được nửa năm do lực lượng non trẻ, binh ít, thế cô. Trong một trận huyết chiến với quân Ngô tại khu căn cứ Bồ Điền, Bà Triệu đã anh dũng ngã xuống trong sự tiếc thương, kính phục từ nhân dân. Đó là ngày 22 tháng 2 năm 248. Ngày mất của Bà từ bao đời nay đã trở thành ngày lễ hội tại đền thờ Bà dưới chân núi Tùng.

Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại nhưng đã để lại một dấu son sáng ngời trong lịch sử chống ngoại xâm anh hùng của dân tộc ta. Trong dân gian còn truyền lại bài ca dao ca ngợi khí phách hiên ngang của Bà:

Ru con, con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.

Muôn coi lên núi mà coi,

Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

Túi gấm cho lẫn túi hồng,

Têm trầu cánh kiến cho chồng ra quân.

Ở khu vực núi Tùng, mộ của Bà Triệu vẫn được đời nối đời trân trọng gìn giữ, đền thờ Bà Triệu đã gần 20 thế kỷ qua vẫn nghi ngút khói hương. Tên tuổi và Sự nghiệp của Bà Triệu đã trở nên bất diệt với vạn cổ thử giang sơn (muôn đời sông núi này) (Chữ của Trần Quang Khải trong bài cảm khái ông viết sau trận đại thắng quân Mông Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai (1285) và mãi mãi toả sáng trong sử sách cũng như trong ký ức của các thế hệ nhân dân yêu nước:

Tùng sơn nắng quyện mây trời,

Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.

 sẽ liên tục thông tin mới nhất đến bạn đọc!
Đăng bởi: Biên Thùy (thành viên tích cực)
Ý kiến bạn đọc
 
1 2
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!
Bạn đọc quan tâm