Thứ 3, 22/11/2016 | 00:00 GMT+7
Đăng bởi: Biên Thùy (thành viên tích cực)

Bia Trường Thi (TP. Thanh Hóa). Ảnh: Thế Chất

Trong suốt gần một ngàn năm của chế độ khoa cử nước ta (1075 - 1919), Thanh Hóa có 242 vị tiến sĩ và một số trạng nguyên. Trạng nguyên Trịnh Huệ là trạng nguyên cuối cùng, vì các khoa thi sau không ai đỗ trạng nguyên.

Theo ThS Nguyễn Quốc Huy: Tương truyền Trịnh Huệ là dòng dõi chúa, song gia cảnh Gia đình ông rất nghèo, đến đời bố ông đã chuyển nơi sinh sống, từ xã Sóc Sơn (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) về vùng đất của huyện Quảng Xương để lập nghiệp. Ban đầu gia đình ông ở bãi Cồn Thần, nay là phần đất của hai trường THCS Nguyễn Du và trường THPT Quảng Xương I. Sau này vì điều kiện sinh sống nơi đây khó khăn, nên gia đình ông chuyển về làng Ngọc Am, xã Bất Quần để sinh sống. Tại vùng đất này, ông cụ đã kết duyên với một thôn nữ đẹp người, đẹp nết lại hay lam hay làm và đã sản sinh ra một nhân tài cho đất nước: Trạng nguyên Trịnh Huệ.

Theo "Trịnh Vương ngọc phả" thì trạng nguyên Trịnh Huệ còn có tên là Trịnh Tuệ, vì có tên trùng với vợ Trịnh Sâm là Trịnh Đặng Thị Huệ, nên đã đổi tên. Trịnh Huệ là cháu đời thứ 4 của chúa Trịnh Tùng. Tuy thuộc dòng dõi nhà chúa quyền thế, song từ nhỏ ông đã thể hiện là đứa trẻ thông minh, cần cù chịu khó học hành. Lớn lên ông dốc sức học tập dùi mài kinh sử mong chiếm được bảng vàng. Người xưa từng nói: Trịnh Huệ liếc mắt qua một lượt thuộc ngay mười hàng chữ, chục năm sau có thể đọc lại vanh vách.

Vào năm Bảo Thái thứ tư đời vua Lê Dụ Tông (1723), Trịnh Huệ thi Hương lần đầu và đỗ Hương Cống, được chúa Trịnh Giang mời vào cung Tân Nhân giao cho chức phó Tri Hình Phiên. Tại khoa thi năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ hai đời vua Lý Ý Tông (1736) Trịnh Huệ đỗ trạng nguyên. Lúc đầu ông làm quan chức Sơn Nam thừa Chánh sứ rồi đến Thượng thư Bộ Hình, vài năm sau lại được thăng chức Tham tụng - một chức quan ngang tể tướng trong triều.

Theo sử chép năm 1740 có một lần chúa Trịnh Doanh đã nghi ông về phe với Hoàng Công Phụ để làm phản, gây loạn trong triều. Thế nên bắt giam ông vào ngục để điều tra. Năm 1741, Chúa xét thấy ông bị oan đã tha bổng và phong ông làm Tế Tửu Quốc tử giám. Học vấn và tài năng của ông được người đời trọng dụng, nhưng ông gặp không ít gian truân.

Vì đường quan lộ của Trịnh Huệ thăng tiến nhanh, ông lại là con cháu nhà chúa. Thế nên, có nhiều dị nghị đố kỵ với ông. Giai thoại kể rằng: Trước những lời dị nghị, đồn đại ảnh hưởng đến uy tín của mình, Trịnh Huệ đã nói với mọi người rằng: "Tôi đỗ nhất Tam khôi mà lại nói là Vương phủ thiên vị thì còn gì gọi là văn chương nữa. Để khỏi nghi ngờ xin chư vị đem các câu hỏi khó ở bất cứ trong sách nào về kinh, sử, y học bói toán... tôi sẽ trả lời". Mọi người tranh nhau hỏi, ông đều trả lời trôi chảy.

Hỏi về sách vở Trung Hoa, không tìm ra được điểm yếu của Trịnh Huệ, sau đó họ quay sang hỏi những câu hỏi hóc búa về thực tế ở Việt Nam để khuất phục ông. Có một người nêu câu hỏi: Chiếc đũa là vật thiêng không có chân lúc nào thì gãy, lúc nào thì mất, vậy nó chạy đi đâu? Ở trong kinh điển nào? Trịnh Huệ mỉm cười, khoan thai đọc hai câu thơ của Lê Thánh Tông: Trời còn giành để An Nam mượn/Vạch chước binh Ngô mãi mới vừa.

Rồi ông nói tiếp: "Đó chẳng phải là câu thơ của Lê Thánh Tông bản Triều Vịnh núi Chiếc Đũa, nơi khởi phát đế nghiệp mở ra công cuộc bình Ngô của nước ta hay sao? Núi Chiếc Đũa không có chân mà chạy về góc đó".

Hai trụ đá khắc chữ Hán trước kia cụ Trịnh Huệ dạy học cho người dân.

Quả là ở Thanh Hoá nơi cửa biển Thần Phù (nay thuộc địa phận làng Văn Đức, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn) có ngọn núi đứng một mình tên chữ là Chích Trợ Sơn, gọi nôm là núi Chiếc Đũa, hình thù giống như chiếc cọc cắm giữa biển làm cột mốc cho thuyền bè qua lại. Từ xưa, các vua chúa qua đây đều có thơ đề vịnh, ca ngợi cảnh đẹp của phong cảnh nơi đây.

Hơn 20 năm làm nghề giáo dục, là quãng đời dài dằng dặc đáng kể của một vị Trạng nguyên. Như vậy, ông đã dành nửa đời người luyện chí thành tài, còn lại nửa đời người cống hiến cho ngành giáo dục nước nhà.

Hơn 20 năm làm Tế tửu Quốc tử giám, Trịnh Huệ không dám chấn chỉnh mà chỉ được phép điều chỉnh việc học, góp phần đào tạo được nhiều tài năng như: Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Dận, Đoàn Nguyễn Thục, Nguyễn Bá Phúc, Vũ Huy Đỉnh, vv... trong số đó đặc biệt hai ngôi sao sáng: Bảng nhãn Lê Quý Đôn, Tiến sĩ Ngô Thì Sĩ.

Suốt đời làm quan, từ tứ phẩm thăng lên nhất phẩm rồi tụt xuống tứ phẩm, Trịnh Huệ vẫn giữ đúng phẩm chất một quan chức mẫu mực thanh liêm, cẩn thận, cần mẫn.

Sau khi từ giã sự nghiệp quan trường Trịnh Huệ đã trở về núi Voi mở lớp dạy học cho người dân trong vùng. Ông đã bỏ tiền thuê người Xây dựng một căn nhà nhỏ để hằng ngày người dân tới học chữ, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ gái trai. Miễn ai có tinh thần học tập là ông sẵn lòng dạy miễn phí.

Học trò giỏi của Trịnh Huệ là Tiến sĩ Nguyễn Hoàn con trai Tham tụng Nguyễn Hiệu (Lan Khê, Nông Cống), nổi danh tài đức vẹn toàn, sau khi thầy mất, đã vận động bạn đồng môn đóng góp xây dựng ngôi nhà thờ tại nền đất gia đình gần núi Voi thuộc làng Thọ Sơn, xã Bất Quần (nay là xã Quảng Thịnh, TP. Thanh Hóa). Ngôi nhà thờ này chẳng may bị hỏa hoạn, di tích hiện còn lại bàn thờ, bát hương,... và tấm biển bằng đá khắc ba chữ “Trạng nguyên từ” phía sau ghi chú “Bính Thìn khoa”. Bốn góc vườn xưa vẫn tươi tốt bốn cây thị mùa quả chín ngát hương thơm danh “Nhà giáo trạng nguyên Trịnh Huệ”.  

 sẽ liên tục thông tin mới nhất đến bạn đọc!
Đăng bởi: Biên Thùy (thành viên tích cực)
Ý kiến bạn đọc
 
1 2
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!
Bạn cần Đăng nhập hoặc Đăng ký để có thể gửi bình luận!