CHUYÊN MỤC HỎI ĐÁP
Được quan tâm

Gái bán dâm kiêm luôn môi giới

21.9 k lượt xem
0 Trả lời

Tìm kiếm

Thể thao Du lịch Sức khỏe

ThanhHoa24h.com!

Chung tay góp sức vì một cộng đồng Thanh Hóa vững mạnh & phát triển.
Tỉnh Thanh thắng địa là nơi, Rồng vờn hạt Ngọc, Hạc bơi chân Thành

Tết cổ truyền của người Thái xứ Thanh

Avatar
Thu Trang
Offline
22:00 - 18/12/2016

96 Bài viết

Dân tộc Thái là một trong 7 dân tộc anh em cùng sinh sống lâu đời trên vùng đất xứ Thanh. Trên địa bàn Thanh Hóa, người Thái được phân biệt theo địa bàn tụ cư: Một nhóm cư trú ven sông Chu, nhóm còn lại chọn lưu vực sông Mã làm không gian kinh tế.

Tết cổ truyền của người Thái xứ Thanh

Phụ nữ Thái huyện Quan Hóa biểu diễn khua luống trong ngày xuân.

Nhóm người Thái cư trú dọc sông Chu có số lượng ít gọi là Táy Dọ (Thái Trắng). Nhóm này có quan hệ mật thiết với nhóm Thái ở Tương Dương (Nghệ An). Họ tương đồng về nhiều mặt như sinh hoạt, trang phục, tục lệ... với người Thái Trắng ở Sơn La, Lai Châu. Ngược lại nhóm Thái cư trú ở lưu vực sông Mã có số lượng rất đông, phân bố trên địa bàn rộng thường gọi là Táy Đăm (Thái Đen). Nhóm này có quan hệ mật thiết với các nhóm Thái ở Mai Châu (Hòa Bình), Sầm Nưa (Lào), Nghệ An...
 
Theo số liệu thống kê năm 2009, tổng số người Thái trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là 225.336 người; tương đương với 6,6% dân số toàn tỉnh. Hơn 22 vạn cư dân Thái sinh sống tập trung thành một khối, “chiếm lĩnh” miền núi và phần trung du (xen kẽ với người Mường, người Thổ, người Kinh). Trên địa bàn Thanh Hóa, người Thái có mặt ở 8 huyện, trong đó tập trung ở Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân. Ngoài ra, ở các điểm tập trung dân cư (giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng, thị trấn, thị tứ...) đã hình thành những khu vực xen kẽ giữa người Thái và người Mường, người Thái với người Kinh hoặc khu vực “giao thoa dân cư” giữa người Thái với các dân tộc khác như Mông, Dao, Khơ Mú... tại vùng giáp ranh phía Tây. Các huyện Quan Sơn, Quan Hóa, Thường Xuân, Mường Lát có tới 75% dân số là người Thái.
 
Về quan hệ Xã hội, dù ở trong hoàn cảnh nào, cộng đồng người Thái trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn duy trì và giữ gìn những nét ứng xử cao đẹp trên tinh thần hiếu khách... Với láng giềng, các Gia đình người Thái có sự tin tưởng gần như tuyệt đối, hàng xóm có thể thay mặt gia đình tiếp khách mỗi khi gia chủ vắng nhà, sẵn sàng “chia ngọt sẻ bùi” từ bữa ăn hàng ngày đến của ngon vật lạ. Rất hiếm khi có sự xích mích giữa các hộ gia đình trong cùng làng, bản. Người Thái thường xuyên có sự hợp tác trong lao động, sản xuất hàng ngày như dệt vải, quay sợi... Trong gia đình, các tôn chỉ “kính trên nhường dưới”, “anh em thuận hòa”, “nhịn miệng đãi khách”... đều được cộng đồng người Thái thực hiện một cách tự giác. Trong một năm, người Thái có rất nhiều lễ tục và lễ hội quan trọng như ngày tết cổ truyền, kin chiêng boọc mạy, lễ làm vía, lễ thượng điền, lễ xên bản xên mương... song ngày tết cổ truyền vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của đồng bào.
 
Xưa kia, người Thái đen lấy “ngày sấm ra mắt” làm tết cổ truyền, họ quan niệm đây là ngày mở đầu năm mới, vụ mùa mới. Từ sau năm 1945, người Thái ăn Tết Nguyên đán theo lịch người Kinh. Phiên chợ 25 tháng chạp là phiên chợ cuối cùng và lớn nhất trong năm.
Đ
ể chuẩn bị cho ngày tết được viên mãn, cộng đồng người Thái thường dành hẳn một ngày (27 hoặc 28 tết) để tổng vệ sinh nhà cửa, xóm làng. Người Thái cũng gói bánh chưng như người Kinh. Khác với người Kinh, bánh chưng của người Thái có hai loại bánh màu đen và bánh màu trắng. Để tạo màu đen cho bánh, họ lấy muội tro (đốt bằng rơm) trộn lẫn với gạo nếp rồi tiến hành lọc hết muội, song khi nấu vẫn giữ được màu đen cho bánh. Bánh chưng cổ truyền của người Thái không có nhân (thịt, hành, đỗ) bởi theo quan niệm của đồng bào, hương vị lá dong mới là ngon nhất. Thông thường sáng 30 tết, các gia đình tiến hành luộc bánh chưng và giết lợn. Bữa cơm tất niên (chiều 30 tết) là thời điểm để anh em, gia đình họp mặt cùng nhau uống rượu đến sáng. Trong đêm cuối cùng của năm, người Thái phải duy trì hương cháy liên tục(1).
 
Người Thái cúng giao thừa bằng cá, thịt, bánh và các loại thổ cẩm, bạc nén. Các gia đình có cồng, chiêng thì gõ để chào mừng năm hết tết đến. Điểm khác biệt trong tết cổ truyền của người Thái là tục gọi hồn. Lễ gọi hồn của người Thái không phải gọi hồn cho người đã khuất mà gọi “vía” những người đang sống, lễ này được tiến hành vào một trong những ngày cuối cùng của năm. Mỗi gia đình giết thịt hai con gà, một con dùng để cúng tổ tiên, con còn lại dùng cho lễ gọi hồn. Người trực tiếp gọi hồn cho từng thành viên là thầy cúng; phương tiện dùng để gọi hồn là từng chiếc áo của các thành viên trong gia đình. Thầy cúng buộc những chiếc áo lại với nhau, vắt lên vai tay cầm một thanh củi đang cháy đi ra đầu bản gọi hồn (vía) cho cả nhà, sau đó thầy cúng về đến chân cầu thang thì tái diễn các nghi thức này một lần nữa. Kết thúc buổi gọi hồn, thầy cúng sẽ buộc vào cổ tay mỗi thành viên trong gia đình một sợi chỉ đen để trừ tà. Sợi chỉ nếu bị đứt trong quá trình lao động sản xuất thì không sao nhưng nếu mỗi cá nhân tự ý dứt đứt sợi chỉ thì sẽ gặp những điều không tốt trong năm mới. Một nét văn hóa đặc sắc trong dịp tết cổ truyền của cộng đồng người Thái trên đất Thanh là tục rửa mặt sáng mùng một tết. Từ sáng sớm tinh mơ, già trẻ, gái trai trong bản đã cùng nhau ùa ra các bến sông, bến suối, mó nước. Trên đường đi, họ đều đem theo dụng cụ lấy nước (như ống luồng, ống vèo hoặc thùng gánh nước) và với tay bẻ lấy một cành lá bên đường. Đến bến nước, họ nhẹ nhàng cúi xuống hớp một ngụm nước súc miệng rồi dùng tay vốc nước lên rửa mặt. Tiếp đó, họ dùng cành cây đã bẻ dọc đường nhúng xuống nước rồi vẩy lên quần, khăn, váy, áo; đồng thời miệng đọc những câu ca hoặc những lời thoại vần vè đại ý: “Mặt ta bẩn ta đến rửa/ Ta dậy sớm trước chim/ Ta rửa mặt trước chuột/ Người trên thấy, họ thương/ Người khôn thấy, họ mến...”; khi vẩy nước lên mình, họ lại đọc những câu đại ý: “Ta kéo cái xấu trong người ta đi ra/ Đổ cái xấu trong thân ta đi sạch; Thiên hạ làm bùa mê, ông tạo bỏ thuốc độc, gái tơ nói điều xấu... ta phủi đi hết/ Ta phải trút theo con suối, giũ cho sạch hết nòi xấu xa...” rồi họ ném tất cả các cành cây xuống để cuốn theo dòng nước(2). Về đến nhà các thành viên trong gia đình đều uống một ít nước luộc bánh chưng. Đây là thời khắc duy nhất người phụ nữ Thái được xuất hiện ở gian cúng ma nhà (quạt nhẹ cho xôi bớt nóng). Sau đó, mỗi gia đình sẽ soạn ít nhất hai mâm cỗ; mâm cỗ đặt trên cao dùng để cúng tổ tiên bên chồng; mâm cỗ đặt ở vị trí thấp hơn dùng để cúng tổ tiên nhà vợ. Cúng xong, tất cả đàn ông con trai phải lui vào nhà trong, phụ nữ được dùng cơm trước.

Mâm cỗ ngày tết của người Thái không thể thiếu món cá. Người Kinh kiêng đến nhà hàng xóm vào sáng mùng một, song với người Thái buổi sáng đầu tiên của năm lại là dịp để đi thăm và chúc tụng bà con láng giềng. Người Thái kiêng vứt lá dong xuống sàn nhà, kiêng quét nhà trong ngày đầu năm mới.
 
Từ chiều mùng một, nam nữ thanh niên bắt đầu đi chơi, đến nhà nào có thể ăn uống và ngủ luôn tại đấy. Mỗi cuộc “du xuân” năm mới kéo dài rất nhiều ngày, có khi qua rằm tháng giêng mới trở về nhà. Trong ngày tết cổ truyền, người Thái cũng tổ chức rất nhiều hoạt động vui chơi như đánh cồng chiêng, ném còn, khua luống... Những cuộc đón tết vui xuân không chỉ là kết thúc một chu trình sản xuất, nghỉ ngơi vui chơi thoải mái mà còn cầu mong cho một năm mới người an, vật thịnh, mùa màng tươi tốt, bội thu.

 

Đặc sản

Địa danh

Di tích lịch sử Thành Nhà Hồ


Khu di tích lịch sử Lam Kinh - Hào khí một thời


Vẻ đẹp thiên nhiên nơi Pù Luông Xứ Thanh


Sầm Sơn - Điểm đến trọn niềm vui


Vườn quốc gia Bến En - vẻ đẹp nguyên sơ của tạo hóa


Suối cá thần Cẩm Thủy - dấu ấn Xứ Thanh